Thứ ba, 18/06/2024 00:37:00 (UTC+7) 546,789,043,642

Phật dạy về cách khởi nghiệp mưu sinh

Quảng Kiến/ Phật Giáo và Doanh Nhân

Có thật Đức Phật đã dạy về cách khởi nghiệp, mưu sinh? Hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên, vì không nghĩ rằng Đức Phật lại có thể hướng dẫn về một vấn đề “trần tục” như thế. Nhắc đến giáo pháp của Ngài, người ta thường nghĩ đến Từ bỏ và Xuất ly. Thế nhưng, bạn có biết rằng, Đức Phật không những đã dạy về khởi nghiệp – mưu sinh, mà Ngài còn dạy một cách thiết thực, sống động? Sau đây là hai câu chuyện điển hình – trong khá nhiều câu chuyện – mà Đức Phật đã kể lại, chúng ta hãy cùng suy ngẫm!

Phật dạy về cách khởi nghiệp mưu sinh

CHUYỆN THỨ NHẤT:

Khởi nghiệp từ một con chuột chết! Chuyện được Đức Phật kể lại trong Tiểu bộ kinh IV – Jataka số 4: “Chuyện tiểu triệu phú” (Tiền thân Cullakasetthì):

Thuở ấy, Bồ tát sinh ra trong gia đình một triệu phú tại thành Ba La Nại, được gọi là Tiểu Triệu Phú; ngài thông minh, tinh nhạy khó ai sánh bằng. Một hôm, trên đường đến hầu vua, ngài bắt gặp một con chuột chết nằm giữa đường. Sau khi quan sát con chuột, ngài thốt lên: “Một thiện nam tử có mắt nào, chỉ với một con chuột này, cũng có thể gầy dựng được cơ nghiệp và nuôi được vợ!”

Lúc ấy, một chàng trai nghèo nghe được lời ngài, bèn suy nghĩ và quyết định đem con chuột ấy đến tiệm bán thức ăn cho mèo, đổi lấy được một xu. Với số tiền đó, chàng mua được ít đường mật và nước, đựng trong một cái gáo. Gặp những người làm vòng hoa từ rừng đi ra, chàng mời họ uống, và mỗi người cho chàng một nắm hoa. Chàng bán số hoa đó rồi mua thêm đường mật… Bằng cách ấy, chẳng bao lâu chàng kiếm được tám đồng tiền vàng.

Hôm nọ, trời mưa to gió lớn, lá và cành khô trong vườn nhà vua rụng đầy, người làm vườn không quét xuể. Chàng đến và đề nghị được quét dọn khu vườn, với điều kiện là số củi lá ấy sẽ thuộc về chàng. Người làm vườn chấp thuận. Chàng bèn lấy đường mật trao cho lũ trẻ, nhờ chúng giúp. Chẳng mấy chốc, củi lá được gom thành một đống trước vườn hoa. Gặp lúc người thợ gốm đi qua, thấy số củi lá ấy, ông bèn mua về nung chén bát.

Ngày đó, chàng trai nghèo có được 24 đồng tiền vàng. Chàng tính toán và lên một kế hoạch quy mô hơn. Chàng sắm một ghè nước lớn, đặt không xa cửa thành, cung cấp miễn phí cho năm trăm người cắt cỏ. Cảm kích về việc làm ấy, những người cắt cỏ muốn làm một điều gì đó cho chàng. Chàng bảo: “Lúc nào cần, tôi sẽ nói cho các bạn biết!”

Trong thời gian đó, chàng kết thân với một người buôn bán trên bộ và một người buôn bán trên biển. Người buôn bán trên bộ cho chàng hay, vào ngày hôm sau, một người buôn ngựa sẽ dắt 500 con ngựa đến thành. Chàng đi đến những người cắt cỏ, nói với họ: “Hôm nay, mỗi người hãy cho tôi một bó cỏ, và không bán cỏ của các bạn cho đến khi tôi bán xong cỏ của tôi”. Họ bằng lòng. Do không tìm đâu ra cỏ cho ngựa, người buôn ngựa phải mua cỏ chỗ chàng, mỗi bó 2 đồng. Nhờ vậy, chàng kiếm được 1.000 đồng tiền vàng.

Sau đó, người buôn bán trên biển cũng báo cho chàng biết sẽ có một chiếc tàu lớn đầy hàng cập bến. Chàng bèn thuê một cỗ xe sang trọng, đầy đủ tiện nghi, đến bến cảng với vẻ uy nghi, đường bệ. Chàng trao chiếc nhẫn cho chủ tàu để làm vật bảo chứng sẽ mua hết số hàng đó. Xong, chàng dựng một cái lều cách đó không xa, bảo với những người làm công rằng: “Khi có các người lái buôn từ ngoài đến, hãy báo cho ta biết qua ba người giới thiệu”.

Nghe tin có tàu đến, khoảng 100 lái buôn từ Ba La Nại đến mua hàng. Nhưng họ không mua được vì hàng đã có người bảo chứng. Họ bèn tìm đến chỗ chàng. Những người làm công, theo lời dặn trước, báo tin họ đến qua ba người giới thiệu. Những người lái buôn ấy phải đưa cho chàng mỗi người 1.000 đồng hùn vốn và 1.000 đồng nữa để lấy phần hàng của mình.

Như vậy, chàng trai nghèo, trải qua bốn tháng, từ một con chuột chết, đã có được 200.000 đồng tiền vàng. Để bày tỏ lòng biết ơn đối với Tiểu Triệu Phú, chàng đến thăm ngài với 100.000 đồng tiền vàng. Tiểu Triệu Phú ngạc nhiên hỏi chàng về nhân duyên số tiền lớn ấy. Chàng bèn thuật lại đầu đuôi câu chuyện. Tiểu Triệu Phú nghe xong, nghĩ rằng không thể để một chàng trai trẻ như vậy rơi vào tay người khác, bèn gả con gái và giao cho chàng quản lý toàn bộ tài sản. Khi Tiểu Triệu Phú qua đời, chàng trở thành vị triệu phú của thành ấy.

Kết thúc câu chuyện, Đức Phật đọc bài kệ

“Bậc trí với ít vốn,

Bậc có mắt, ít hàng,

Tự xây dựng cho mình

Tài sản lớn như vậy,

Như dùng hơi thở mình

Thổi lớn đám lửa nhỏ”.

Bạn thân mến!

Là một người trẻ, liệu bạn có đủ tự tin để khởi nghiệp khi trong tay chỉ có một con chuột chết đáng giá một xu?

Trong câu chuyện trên, chúng ta hẳn thán phục tài buôn bán của chàng trai nghèo “có mắt”. Trí tuệ của chàng thể hiện ở chỗ chàng biết nhận ra giá trị của một câu nói, và có thể kiếm tiền từ những thứ vứt đi (con chuột, củi rác), nghĩa là chàng biến sản phẩm vô dụng thành hàng hóa. Có thể có ít nhiều yếu tố may mắn – nhưng sự may mắn không thể đến nếu chàng không biết tận dụng cơ hội và nắm bắt thị trường1 , cũng như sự tinh tấn, nỗ lực không ngừng2 .

Cách khởi nghiệp và phương thức kinh doanh hiện đại đã được thấy trong câu chuyện của hơn 2.500 năm về trước qua lời kể của bậc Đạo sư. Rất nhiều doanh nghiệp thành đạt ngày nay cũng đã khởi nghiệp từ một số vốn ít ỏi như chàng trai nghèo kia – “như dùng hơi thở mình, thổi lớn đám lửa nhỏ”

Đầu tiên, chàng đã biết thuê nhân công phổ thông theo kiểu mùa vụ (đám trẻ con, với một ít đường mật). Kế đến, chàng xây dựng đường hướng kinh doanh bắt đầu từ việc thu hút cảm tình qua mô thức tài trợ (cung cấp đường mật và nước uống miễn phí cho những người hái hoa, cắt cỏ). Nhờ đó, những người bạn này đã giúp cho chàng độc quyền phân phối (trong một thời hạn) sản phẩm của mình (bán 500 bó cỏ) – một hình thức hỗ trợ cho người mới ra làm ăn mà ta vẫn thường thấy trong cộng đồng người Hoa!

Chàng cũng biết PR thương hiệu bằng việc tạo dựng hình ảnh (thuê cỗ xe sang trọng, quý phái cùng với nhân công), nhằm tạo niềm tin cho đối tác. Đặc biệt, chàng đã biết thâu tóm nguồn hàng (đặt cọc, bảo chứng bằng chiếc nhẫn) và chiếm dụng vốn (từ 100 người lái buôn).

Nhờ vào trí thông minh, nhanh nhạy cộng với một chút mạo hiểm và chiến lược kinh doanh độc đáo, chàng đã thành công rực rỡ

“Bậc trí với ít vốn Bậc có mắt,

ít hàng Tự xây dựng cho mình

Tài sản lớn như vậy”!

Tuy nhiên, không dừng lại ở việc hướng dẫn phương thức làm ăn thông thường, điều Đức Phật muốn nói thông qua câu chuyện chính là: hãy nhận ra số vốn (khả năng tu tập, học hỏi) của mình, cho dù ít ỏi, nhưng nếu khéo vận dụng, thì vẫn có thể đạt được một sự nghiệp lớn (sự vĩ đại trong Chánh pháp)!

CHUYỆN THỨ HAI

Kết cục của việc mưu sinh gian dối Chuyện cũng được Đức Phật kể lại trong Tiểu bộ kinh IV – Jataka số 3: “Chuyện người buôn ghè” (Tiền thân Serivànija):

Thuở ấy, Bồ tát sinh ra trong nước Seri, làm nghề buôn ghè bát, được gọi là Serivan. Serivan cùng một người lái buôn khác, vượt qua sông Talavaha vào thành Andhapura. Cả hai phân chia những con đường trong thành để buôn bán.

Trong thành ấy, có một gia đình triệu phú bị sa sút, tài sản đều mất sạch. Những người đàn ông, con trai cũng qua đời, chỉ còn lại người bà và cô cháu gái sống bằng nghề làm thuê. Trong nhà có một cái bát bằng vàng cũ kỹ nằm lăn lóc, bị bụi dơ bám đầy, nên hai bà cháu không biết được giá trị của nó.

Khi ấy, người lài buôn kia đi ngang, vừa đi vừa rao: “Hãy lấy ghè nước, hãy lấy ghè nước”. Cô cháu gái muốn đem đồ ra đổi, nhưng trong nhà không còn gì cả ngoài cái bát “vô dụng”. Người bà bèn gọi người lái buôn vào, đưa cái bát ra, hỏi xem có đổi được chút vật dụng nào không? Bằng kinh nghiệm của mình, người lái buôn biết ngay cái bát này bằng vàng ròng. Ngay lập tức, lòng tham nổi lên, gã nghĩ: “Không cần cho những người này một cái gì cả, ta sẽ lấy cái bát”, bèn nói: “Cái bát này giá không đáng nửa đồng xu”. Nói xong, gã quăng bát xuống đất rồi đứng dậy bỏ đi.

Giữa hai người lái buôn có sự thỏa thuận với nhau rằng, nếu người này đi qua con đường đã được phân chia rồi, thì người kia có thể đi vào. Do vậy, Serivan đi vào con đường ấy, rao hàng: “Ai lấy ghè nước không?” Cô cháu gái lại thưa với bà. Bà bảo: “Người lái buôn đến trước đã quăng bát xuống đất và bỏ đi, nay chúng ta có thể cho cái gì để lấy được?” Cô đáp: “Thưa bà, người lái buôn kia ăn nói thô ác. Còn người này có dáng mặt dễ thương, ăn nói dịu dàng. Rất có thể người này nhận lấy”. Cô liền gọi Serivan lại. Cầm bát, Serivan cũng biết ngay nó được làm bằng vàng, bèn nói: “Thưa mẹ, cái bát này đáng giá trăm ngàn đồng tiền vàng. Tôi không có trong tay hàng hóa nào giá trị đến vậy!” “Này ông, người lái buôn kia nói cái này không đáng giá nửa đồng xu, đã quăng xuống đất và bỏ đi. Nay nhờ công đức của ông mà bát này trở thành bằng vàng. Vậy chúng tôi cho ông cái bát này, đổi lại, ông hãy cho chúng tôi một ít gì”. Serivan bèn giao cho bà tất cả những gì mình có, gồm 800 đồng tiền mặt và hàng hóa trị giá 500 đồng tiền vàng. Chàng chỉ xin giữ lại cái cân, cái giỏ và tám đồng tiền vàng rồi ra đi.

Bấy giờ, người lái buôn tham lam quay trở lại, nói: “Hãy đem cái bát ra đây, ta sẽ cho các người một ít đồ”. Bà cụ liền mắng: “Chú cho rằng cái bát bằng vàng của chúng tôi không đáng giá nửa đồng xu! Nhưng một người lái buôn chân chánh, giống như thầy của chú, đã cho chúng ta một ngàn đồng vàng, lấy cái bát và ra đi rồi”. Nghe vậy, gã than trời: “Ta đã mất đi cái bát bằng vàng trị giá một trăm ngàn đồng tiền vàng rồi. Nó thật là tên ăn cướp đã hại ta”.

Người lái buôn tham lam ấy ưu tư sầu muộn, không thể tập trung tâm trí, trở nên điên loạn, tự tay vung vãi những đồng tiền vàng và hàng hóa trước cửa nhà ấy, quăng bỏ áo mặc, áo choàng, và tay cầm cán cân như cái gậy chạy theo Serivan. Nhưng gã không thể nào bắt được Serivan. Gã quẫn tiết, tim nóng ran, máu nóng trào ra miệng và quả tim ấy bị nứt ra như bùn dưới đáy một bể nước rồi gục chết tại chỗ!

* Bạn thân mến!

Bạn cho rằng câu chuyện trên chỉ là một câu chuyện cổ tích? Rất có thể bạn đúng. Tuy nhiên, triết lý “cổ tích” ấy lại sống động và có giá trị thiết thực cho đến ngày hôm nay.

Ngày nay, khi đời sống vật chất lên ngôi, không ít người đã như kẻ lái buôn tham lam kia, bóp nghẹt những người nghèo khó để chiếm đoạt những gì có thể. Cảnh người bóc lột người vẫn diễn ra hàng ngày tại các nhà máy, công sở. Kết cục là hố sâu ngăn cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng nới rộng – một trong những nguyên nhân gây ra sự bất ổn xã hội: “các hoạt động phản xã hội như tội ác khởi lên do những điều kiện phức tạp luôn gắn liền với nghèo đói”3 .

Rõ ràng, Đức Phật cũng đã nhận thấy nghèo đói là một thảm trạng4 . Do đó, khi có một nông dân đang chịu cơn đói giày vò đến tìm gặp Ngài, thay vì giảng pháp cho ông ta, Ngài đã bảo chúng Tỳ kheo hãy cho ông ta ăn no đã5 . Thực vậy: “Chúng ta đang sống trong một thế giới có 20% những người giàu nhất, giàu gấp 60 lần 20% những người nghèo nhất. Có 400 tỷ phú giàu hơn một nửa dân số trên toàn thế giới. Các nhà lãnh đạo toàn cầu phải hiểu thế kỷ XXI sẽ không thể sống sót với nền đạo đức như của thế kỷ XX. Tất cả chúng ta phải trở nên bớt ích kỷ hơn, bớt gây gổ hơn và tìm trong tâm hồn chúng ta tình thương cần thiết cho những người nghèo nhất trên hành tinh này”. (Oscar Arias, nguyên Tổng thống Costa Rica, Giải Nobel Hòa bình năm 1987).

Do đó, Đức Phật đã hướng dẫn chúng ta phương cách mưu sinh bằng sự nỗ lực không ngừng (chánh tinh tấn) và không chọn những nghề cũng như những phương thức kinh kinh doanh có thể làm tổn hại đến người khác (chánh mạng). Hãy “tăng trưởng tài sản dần dần chứ không chèn ép người khác, cũng như các chú ong hút mật mà không làm hại hoa”6 . Lối kinh doanh lấy siêu lợi nhuận làm mục đích, bất chấp sự phi pháp sẽ đem đến một kết cục không mấy tốt đẹp – như người lái buôn tham lam kia! Cho nên “công bằng, chân chính là những yếu tố rất quan trọng trong việc tạo ra của cải, đến nỗi khi bắt tay vào việc kinh doanh hay thực hiện một công việc đầy hứa hẹn nào, ta cần phải thệ nguyện không lạm dụng người khác”.

 

Tóm lại, “nếu những gì mà bạn làm, hay những gì mà tổ chức của bạn làm, vi phạm Ngũ giới, thì công việc của bạn và người chủ của bạn đang làm là vi phạm Chánh mạng. Theo thuật ngữ của đạo Phật, công việc của bạn sẽ được định nghĩa là trái đạo đức”.

Một cách tích cực hơn, mưu sinh theo lời Phật dạy không những chỉ biết thu vào mà còn phải cho đi, bằng cách bố thí – cúng dường. Bởi lẽ: “Nếu một cá nhân sở hữu nhiều tài sản, vàng bạc và thực phẩm mà chỉ dùng chúng cho bản thân, thì người đó đang trên đường tụt hậu”

——-

1 Phật dạy: “Yếu tố quan trọng nhất đối với sự thành công của con người là hành động đúng thời, đúng lúc” – Tương ưng bộ kinh I, kinh Appamada.

2 Phật dạy Chánh tinh tấn (để thành công trong cuộc sống thế tục) là: “Người đó phát triển sự hiểu biết, và khả năng trong nghề nghiệp của mình, có khả năng tổ chức, thực hiện những công việc cần thiết đúng thời điểm và trình bày được các kế hoạch tìm tòi các phương tiện phát triển tân tiến. Đó là cái mà ta gọi là Chánh tinh tấn” – Tăng chi bộ (Anguttara Nikaya VIII), phẩm Gotami, kinh Vyagghapajja.

3 N.Ratnapala, Xã hội học Phật giáo, Bùi Thanhàn-Trí Quảng dịch, New Delhi, 2003, tr.155

4 Xin xem thêm: Tăng chi bộ III, chương 6, phẩm Dhammika, phần Nghèo khổ.

5 Xin xem Chú giải kinh Pháp cú – dẫn theo Xã hội học Phật giáo, tr.155.

6 Trường bộ kinh III, kinh Sigalovada.

7 Theo B. Rahula, Lời dạy của Đức Phật về sự thành tựu trong gia đình, nơi công sở, ngoài xã hội, Lý Thu Linh và Mỹ Thanh dịch, Nxb. Tôn giáo, 2010, tr.44.

8 Theo Lloyd Field, Kinh doanh và Đức Phật – thịnh đạt bằng thiện nghiệp, Ths. Trịnh Đức Vinh dịch, Nxb. Tôn giáo, 2010, tr.150.

9 Kinh Tập, phẩm Uraga

XEM NHIỀU

23/07/2024 14:50:13

LỜI CÁO LỖI

Ban Quản trị website Phật giáo & Doanh nhân xin cáo lỗi với toàn thể đại chúng, đặc biệt là giới nhân sĩ trí thức và hành giả Minh Tuệ cùng gia đình ông. Về việc bài đăng “Lời cảnh báo cho hành giả Minh Tuệ” của tác giả Phương Chứng (Đặng...
21/07/2024 01:57:41

Đức Pháp chủ, chư tôn đức các Ban Viện TƯ, BTS các tỉnh thành, lãnh đạo các cơ quan, ban ngành viếng lễ tang HT. Thích Huệ Trí

Trước Giác linh đường, Đức Pháp chủ, Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quảng thắp hương cầu nguyện Giác linh Hoà thượng Thích Huệ Trí cao đăng Phật quốc và hữu nhiễu kim quan tưởng niệm công đức của Hòa thượng đã một đời phụng sự cho đạo...