Cách làm bạn với sự lo lắng

Tú Quỳnh Thứ tư, 22/05/2024 13:42:40 (UTC+7)

Yongey Mingyur Rinpoche là một vị thầy đáng kính và là bậc thầy của dòng Karma Kagyu và Nyingma của Phật giáo Tây Tạng.

Cách làm bạn với sự lo lắng

Thầy nổi bật về khả năng trình bày việc hành thiền theo những cách đơn giản và dễ dàng tiếp cận, đặc biệt liên hệ sự thực tập đó với kinh nghiệm cá nhân của thầy và cả nghiên cứu khoa học hiện đại.

Thầy là người sáng lập Cộng đồng Thiền định Tergar, với các trung tâm và nhóm thực hành trên khắp thế giới, đồng thời là tác giả của những cuốn sách bán chạy nhất như Sống một đời vui: Khám phá bí mật và khoa học về hạnh phúc (2007), Trí tuệ hoan hỷ: Thay đổi và tìm kiếm tự do (2009) và Biến sự nhầm lẫn thành tỏ ngộ: Hướng dẫn về các phương pháp nền tảng của Phật giáo Tây Tạng (2014).

Thầy Mingyur Rinpoche.
Thầy Mingyur Rinpoche.

Dưới đây là cuộc trò chuyện với thầy Yongey Mingyur Rinpoche về cách làm bạn với sự lo lắng:

Thầy phải chịu đựng sự lo lắng khi còn trẻ. Điều gì khiến Thầy lo lắng và Thầy đã vượt qua nó như thế nào?

– Thầy Mingyur Rinpoche: Tôi lớn lên ở dãy Himalaya, một môi trường tuyệt vời với không khí trong lành và cây cối, nhưng cũng là nơi có thời tiết khắc nghiệt. Tuyết không chỉ đến từ trên cao. Nó đến từ mọi hướng (cười). Gió có thể mạnh đến mức làm rung chuyển cả ngôi nhà. Những lúc đó, tôi thường bám vào một cây cột để bảo vệ mình. Thời tiết khắc nghiệt này là một trong những nỗi sợ hãi của tôi.

Một nỗi sợ khác nữa đó là người lạ. Nếu có người mới đến làng tôi, tôi sẽ rất sợ. Nếu họ đến nhà tôi, tôi sẽ hoảng sợ. Điều này đã xảy ra với tôi khi tôi khoảng bảy hoặc tám tuổi. Trong cơn hoảng loạn, cổ tôi thắt lại, tôi không thể thở dễ dàng và tim tôi đau đến mức tôi tưởng mình đang lên cơn đau tim.

Các bác sĩ nói tim tôi vẫn ổn nên mẹ tôi khuyên tôi nên học thiền từ bố. Ông ấy nói với tôi rằng sự hoảng loạn giống như một cơn bão trên dãy Himalaya. Phẩm chất căn bản của tâm, điều mà chúng ta gọi là tỉnh giác, trong sáng hay quang minh, giống như bầu trời bao quanh những ngọn núi. Cơn bão dù có dữ dội đến đâu cũng không làm thay đổi bản chất của bầu trời.

Ông ấy nói, để thực hành, đừng cố gắng chống chọi với giông bão. Cố gắng kết nối với chính bầu trời, với chính nhận thức. Để làm được điều đó, tôi bắt đầu bằng thiền hơi thở, thiền âm thanh và trì tụng thần chú. Sau đó, tôi bắt đầu đón nhận những cơn hoảng loạn của mình và áp dụng quan điểm và thiền định.

Thầy có thể nói về cuộc đấu tranh của Thầy với sự lo lắng không?

– Trong cộng đồng Tây Tạng điều đó không khó, nhưng tôi thấy khó giao tiếp hơn trong bối cảnh văn hóa phương Tây hiện đại. Tôi bắt đầu viết cuốn sách của mình vào năm 2000. Hồi đó, người phương Tây cho rằng nếu bạn lên cơn hoảng loạn thì bạn yếu đuối và không ổn định. Các nhà khoa học vẫn đang trong giai đoạn đầu tìm hiểu về tính dẻo dai của thần kinh – hiểu rằng bộ não của bạn có thể thay đổi và sự hoảng sợ không phải là thứ luôn tồn tại. Đó chỉ là một triệu chứng.

Điều gì đã thúc đẩy Thầy chia sẻ công khai trải nghiệm lo lắng của mình?

– Tôi nghĩ ví dụ về cuộc sống của chính tôi có thể mang lại lợi ích cho những người gặp vấn đề tương tự.

Điều gì đã khiến Thầy trở nên quan tâm đến khoa học? Khoa học hiện đại và Phật giáo có mối liên hệ gì với nhau không?

– Từ nhỏ, tôi đã rất yêu thích khoa học. Khi tôi khoảng mười hai tuổi, tôi gặp Francisco Varela, một nhà khoa học về nhận thức, người đến học thiền với cha tôi. Tôi hỏi anh ấy rất nhiều câu hỏi, về vũ trụ học, các ngôi sao, thiên hà. Cuối cùng, chúng tôi đã nói về bộ não. Rất lâu sau đó, vào năm 2002, tôi trở thành chuột thí nghiệm trong phòng thí nghiệm nơi các nhà khoa học đang nghiên cứu thiền bằng cách sử dụng FMRI và EEG.

Một trong những điểm tương đồng lớn giữa Phật giáo và khoa học là Đức Phật không dạy chúng ta chỉ tin lời Ngài. Anh ấy đề nghị chúng ta nên xem xét mọi việc một cách cẩn thận. Các nhà khoa học cũng làm như vậy khi cố gắng khám phá bản chất của thực tế.

Trong Phật giáo, chúng ta có cái thấy, thiền định và ứng dụng. Trước đó, khi tôi nói về việc cha tôi dạy tôi, tôi đã nói về quan điểm, tức là quan điểm của Phật giáo về bản chất của thực tại. Khoa học cũng có quan điểm, và dường như mỗi lần tôi nói chuyện với các nhà khoa học, nó càng ngày càng gần với quan điểm của Phật giáo.

Về thiền, khoa học chưa có sẵn điều đó và việc ứng dụng vào cuộc sống cũng hơi khác một chút. Trong Phật giáo, việc áp dụng cái thấy và thiền định có nghĩa là chúng ta phát triển những ý định như lòng từ và bi, thực hành vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Điều đó không được thực hiện rõ ràng trong khoa học.

Từ năm 2011 đến năm 2015, Thầy đã thực hiện một khóa tu bụi. Điều gì đã truyền cảm hứng cho Thầy làm điều đó?

– Khi tôi còn trẻ, vào buổi tối chúng tôi thường quây quần bên đống lửa và nghe những câu chuyện, trong đó có những câu chuyện về các thiền sư vĩ đại của Tây Tạng, như Milarepa và Rechungpa, những hành giả du hành yoga. Những câu chuyện này đôi khi khiến bà tôi khóc, vì bà cảm động trước những khó khăn mà họ phải chịu đựng, và tôi cũng khóc theo bà. Vì vậy, ngay từ đầu tôi đã nảy sinh ý tưởng về một cuộc ẩn tu.

Vì cuốn sách của tôi rất hay và tôi đang giảng dạy rất nhiều nên có vẻ như nhiều người đã được giúp đỡ, nhưng tôi cũng cảm thấy một niềm tự hào tinh tế toát ra từ điều đó: Tôi là một giáo viên nổi tiếng, tác giả có sách bán chạy nhất, trụ trì của một trường đại học. tu viện. Vì vậy, tôi nghĩ có lẽ mình nên làm điều gì đó khác biệt.

Thầy đã làm thế nào để bỏ lại mọi thứ phía sau, và điều đó như thế nào?

– Một trong những tu viện mà tôi lãnh đạo là ở Bodhgaya, Ấn Độ, nơi Đức Phật đã giác ngộ. Một đêm khi tôi ở đó, tôi lẻn ra ngoài. Khi tôi đi qua cổng chính, tôi giống như đang ở trong bardo, một trạng thái trung gian, vô niệm, một loại sốc.

Trong suốt cuộc đời, tôi đã mang danh hiệu “rinpoche”, nên mọi người đối xử với tôi như một hoàng tử Pháp. Họ cúi đầu, cho tôi đồ ăn ngon, chỗ ở tuyệt vời. Đột nhiên, tôi hoàn toàn thoát khỏi điều đó. Đồng thời, tôi rất vui vì tôi thực sự muốn thực hiện chuyến nhập thất.

Chẳng bao lâu sau khi nhập thất, Thầy gần như đã chết. Làm thế nào điều đó xảy ra?

– Tôi chỉ có vài nghìn rupee nên sau một chuyến tàu qua đêm, tôi đã cạn sạch tiền. Loanh quanh ở ga xe lửa, tôi tìm thấy một tấm bản đồ Ấn Độ và thấy rằng tôi có thể dễ dàng bắt tàu đến Kushinagar, nơi Đức Phật nhập Niết bàn, niết bàn sau khi chết.

Khi đến nơi, tôi đăng ký vào một nhà khách rẻ tiền, tồi tàn. Điều này đã sử dụng số tiền cuối cùng của tôi. Bây giờ tôi phải ở ngoài đường. Tại nơi Đức Phật được hỏa táng có một bảo tháp. Gần đó có một ngôi đền Hindu nhỏ có một cái cây lớn. Đây là nơi tôi đã ở. Ngoài trời.

Và tôi không có thức ăn. Vài ngày trước, khi còn ít tiền, tôi đã đi ăn ở một nhà hàng. Thế là tôi đến đó xin đồ ăn. Họ bảo tôi hãy quay lại vào buổi tối. Sau khi đóng cửa, họ đưa cho tôi thức ăn thừa khiến tôi bị ngộ độc thực phẩm. Tôi nôn mửa và bị tiêu chảy. Trong năm ngày tiếp theo, tôi chỉ uống nước từ máy bơm. Sau đó, cơ thể tôi không thể cử động được. Dần dần, dần dần tôi cảm thấy mình sắp chết. Sự hoảng loạn bắt đầu và kéo dài vài giờ: Tôi nên làm gì? Có lẽ tôi nên gọi điện cho tu viện của mình và quay về. Cuối cùng, tôi để nó đi.

Đêm đó, tôi cảm thấy như mình bị tê liệt. Tôi không thể nhìn thấy. Tôi không thể nghe được. Vì vậy, tôi bắt đầu thực hành bardo, thiền định về cái chết và cái chết. Tôi trải nghiệm sự tan rã của các yếu tố trong cơ thể, sự tan biến của các giác quan, nhưng tôi vẫn tiếp tục an trụ trong tỉnh giác. Mặc dù các giác quan của tôi không có ở đó, nhận thức vẫn trở nên rõ ràng hơn. Ngay cả ý nghĩ – ngôn từ và hình ảnh trong đầu – cũng bắt đầu tan biến. Rồi đột nhiên tôi trải qua một trạng thái tâm an bình, vượt khỏi suy nghĩ. Không có mặt trước và mặt sau, không có thời gian, chỉ thực sự hiện diện.

Tôi đoán tôi đã ở trong trạng thái đó khoảng bảy, tám giờ. Và cuối cùng, tôi có cảm giác rằng đây chưa phải là lúc để chết. Tôi cần phải quay lại để giúp đỡ mọi người. Có một cảm giác từ bi, ngày càng mạnh mẽ hơn. Sau đó tôi lại cảm nhận được cơ thể mình và dần dần tôi nghe thấy âm thanh. Tôi có thể nhìn thấy trở lại và thế giới dường như hoàn toàn khác.

Trước đây, tôi cảm thấy nơi này không an toàn. Nó có vẻ bẩn thỉu, có rất nhiều chó, muỗi và nguy hiểm. Bây giờ nó cảm thấy như ở nhà, an toàn. Cái cây đó bây giờ được tôi gọi là “cây tình yêu”. Nó còn sống và thật tuyệt vời. Tôi đã đánh giá cao, biết ơn. Tôi rất thích gió thổi trên da tôi.

Sau đó tôi cảm thấy khát nên cố gắng đứng dậy và tìm thứ gì đó để uống. Tôi ngất đi và có người đưa tôi đến bệnh viện. Tôi thức dậy với một ống IV gắn trên người.

Thật là may mắn! Thật là một sự khởi đầu! Sự tu hành của Thầy sau đó như thế nào?

– Thật sự tốt. Tôi đã trải qua mùa hè ở dãy Himalaya và mùa đông ở biên giới giữa Ấn Độ và Nepal. Tôi đã học được nơi nào và làm thế nào để có được thức ăn, và rằng khi bạn yêu thế giới, nó sẽ yêu lại bạn.

Nhiệm vụ duy nhất của tôi là thực hành thiền định. Tôi bắt đầu cảm thấy rất tự do, giống như một con chim trên bầu trời, tự do bay lượn. Không cần phải tuân theo một lịch trình. Không có trách nhiệm làm việc này việc kia. Điều chính là thực hành.

Liệu Thầy có tiếp tục một khóa tu khác như thế trong tương lai không?

– Không, tôi không có kế hoạch làm điều đó. Tôi thực sự muốn nhập thất một mình ở một nơi, nhưng không phải là nhập thất lang thang. Trong cuộc đời, tôi muốn làm hai việc: tĩnh tâm cá nhân và giảng dạy.

Thầy có cảm thấy cần phải nhập thất cá nhân để giảng dạy không?

– Vâng. Nếu tôi nhập thất, việc giảng dạy của tôi sẽ trở nên hữu ích hơn cho học trò của tôi và bản thân tôi cũng học được nhiều điều hơn, điều này giúp ích khi tôi quay lại nhập thất.

Thầy có thể nói thêm về việc cuộc nhập thất lang thang đã thay đổi sự hiểu biết của Thầy về giáo pháp, sự thực hành hoặc cách Thầy giảng dạy như thế nào không?

– Chuyến đi lang thang nhập thất rất đặc biệt. Khi tôi suýt chết, điều đó giúp tôi hiểu được cha tôi và những người thầy vĩ đại khác đang nói về điều gì. Mọi thứ đều tan biến; chỉ có nhận thức hiện diện, vượt ra ngoài khái niệm. Nhưng đồng thời, tôi biết chuyện gì đang xảy ra. Đó là bước đột phá cho sự tu tập của tôi. Tất nhiên, trong thời gian còn lại của khóa tu, tôi gặp rất nhiều thử thách – không tiền bạc, không sự hỗ trợ ngoại trừ những gì tôi có thể tự mình tìm ra, mọi thứ lên xuống thất thường. Tất cả những thử thách này đã giúp ích cho việc luyện tập của tôi. Tôi đã ra khỏi kén. Sống sót một mình, tôi đã học được rất nhiều điều.

Nguồn: lionsroar.com

XEM NHIỀU

16/06/2024 01:19:03

ĐẠO HẠNH NGƯỜI TU

Khi Đức Phật Thích Ca vừa thành đạo, ngài đã hướng đến việc truyền bá chánh pháp để lợi lạc hữu tình, nhưng nếu chỉ một mình ngài liệu có thể lan truyền rộng rãi được không. Sau khi tư duy, ngài quyết định thành lập Tăng đoàn để lo việc...
13/06/2024 22:21:56

Sở Tri Chướng hại người cực nặng

Sở Tri Chướng là chỉ : lấy tri thức và những sự vật mà mình đã biết làm tiêu chuẩn tham chiếu, hình thành một loại kiểu mẫu tư tưởng cố định, làm chướng ngại việc tiếp nhận những sự vật và tri thức mà mình chưa biết.
12/06/2024 23:12:17

Triển lãm Văn hóa Phật giáo trong Festival Huế 2024

Sáng nay, 7-6, tại Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán (15A Lê Lợi, TP.Huế), Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức Lễ khai mạc triển lãm Văn hóa Phật giáo - Festival Huế 2024.